Công nghệ ảo hóa - Các kiểu ảo hóa cơ bản

19/10/2019

1. Ảo hóa hệ thống lưu trữ

Ảo hóa hệ thống lưu trữ về cơ bản là sự mô phỏng, giả lập việc lưu trữ từ các thiết bị lưu trữ vật lý. Các thiết bị này có thể là băng từ, ổ cứng hay kết hợp cả 2 loại.  Việc làm này mang  lại  các  ích lợi như việc tăng tốc khả năng truy xuất dữ  liệu, do việc phân chia các tác vụ đọc, viết trong mạng lưu trữ. Ngoài ra, việc mô phỏng các thiết bị lưu trữ vật lý cho phép tiết kiệm thời gian hơn thay vì phải định vị xem máy chủ nào hoạt động trên ổ cứng nào để truy xuất.

Ảo hóa hệ thống lưu trữ có ba dạng mô hình sau đây:

-  Host-based: Trong mô hình này, ngăn cách giữa lớp ảo hóa và  ổ đĩa vật lý là driver điều khiển của các ổ đĩa. Phần mềm ảo hóa sẽ truy xuất tài nguyên (các ổ cứng vật lý) thông qua sự điều khiển và truy xuất của lớp Driver này.

-  Storage-device based: Trong dạng này, phần mềm ảo hóa giao tiếp trực tiếp với ổ cứng. Ta có thể xem như đây là 1 dạng firmware đặc biệt, được cài trực tiếp vào ổ cứng. Dạng này cho phép truy xuất nhanh nhất tới ổ cứng, nhưng cách thiết lập thường khó khăn và phức tạp hơn các mô hình khác. Dịch vụ ảo hóa được cung cấp cho các Server thông qua một thiết bị điều khiển gọi là Primary Storage Controller.

-  Network-based:  Trong mô hình này, việc ảo hóa sẽ được thực thi trên một thiết bị mạng, ở đây có thể là một thiết bị switch hay một máy chủ. Các switch  hay máy chủ này kết nối với các trung tâm lưu trữ (SAN). Từ các switch hay server này, các ứng dụng kết nối vào được giao tiếp với trung tâm dữ liệu bằng các “ổ  cứng” mô phỏng do switch hay máy chủ tạo ra dựa trên  trung tâm dữ liệu thật. Đây cũng là mô hình hay gặp nhất trên thực tế.

2. Ảo hóa hệ thống mạng

Ảo hóa hệ thống mạng là một tiến trình hợp nhất tài nguyên, thiết bị mạng cả phần cứng lẫn phần mềm thành một hệ thống mạng ảo. Sau đó, các tài nguyên này sẽ  được phân chia thành các channel và gắn với một máy chủ hoặc một thiết bị nào đó.

Có nhiều phương pháp để thực hiện việc ảo hóa hệ thống mạng. Các phương pháp này tùy thuộc vào các thiết bị hỗ trợ, tức là các nhà sản xuất thiết bị đó, ngoài ra còn phụ thuộc vào hạ tầng mạng sẵn có, cũng như nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP).Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu một vài mô hình ảo hóa hệ thống mạng:

-  Ảo hóa lớp mạng (Virtualized overlay network): Trong mô hình này, nhiều hệ thống mạng ảo sẽ cùng tồn tại trên một lớp nền tài nguyên dùng chung. Các tài nguyên đó bao gồm các thiết bị mạng như router, switch, các dây truyền dẫn, NIC (network interface card). Việc thiết lập nhiều hệ thống mạng ảo này sẽ cho phép sự  trao đổi thông suốt giữa các hệ thống mạng khác nhau, sử dụng các giao thức và phương tiện truyền tải khác nhau, ví dụ như mạng Internet, hệ thống PSTN, hệ thống Voip.

-  Mô hình ảo hóa của Cisco: đó là phân mô hình ảo hóa ra làm 3 khu vực, với các chức năng chuyên biệt. Mỗi khu vực sẽ có các liên kết với các khu vực khác để cung cấp các giải pháp đến tay người dùng 1 cách thông suốt:

Khu vực quản lý truy cập (Access Control): Có nhiệm vụ chứng thực người dùng muốn đăng nhập để sử dụng tài nguyên hệ thống, qua đó sẽ ngăn chặn các truy xuất không hợp lệ của người dùng; ngoài ra khu vực này còn kiểm tra, xác nhận và chứng thực việc truy xuất của người dùng trong vào các vùng hoạt động (như là VLan, Access list).

Khu vực đường dẫn (Path Isolation): Nhiệm vụ của khu vực này là duy trì  liên lạc thông qua tầng Network,  vận chuyển liên lạc giữa các vùng khác nhau trong hệ thống. Trong các vùng này sử dụng giao thức khác nhau, như MPLs và VRF, do đó cần một cầu nối để liên lạc giữa chúng. Ngoài  ra, khu vực này có  nhiệm vụ liên kết (maping) giữa các đường truyền dẫn với các vùng hoạt động ở  hai khu vực cạnh nó là Access Control và  services Edge.

Khu vực liên kết với dịch vụ (Services Edge): Tại đây sẽ áp dụng những chính sách phân quy ền, cũng như bảo mật ứng với từng vùng hoạt động cụ thể; đồng thời qua đó cung cấp quyền truy cập đến dịch vụ cho người dùng. Các dịch vụ có thể ở dạng chia sẻ hay phân tán, tùy thuộc vào môi trường phát triển ứng dụng và yêu cầu của người dung

3. Ảo hóa ứng dụng

Ảo hóa ứng dụng là một dạng công nghệ  ảo hóa khác cho phép chúng ta tách rời mối liên kết giữa  ứng dụng và hệ  điều hành và cho phép phân phối lại  ứng dụng phù hợp với nhu cầu user. Một ứng dụng được  ảo hóa sẽ  không được cài đặt lên máy tính một cách thông thường,  mặc dù ở góc độ người sử dụng, ứng dụng vẫn  hoạt động một cách bình  thường. Việc quản lý việc cập nhật phần mềm trở nên  dễ dàng hơn, giải quyết sự đụng độ giữa các ứng dụng và việc thử nghiệm sự  tương thích của chúng cũng trở nên dễ dàng hơn.  Hiện nay đã có khá nhiều chương trình ảo hóa ứng dụng như Citrix XenApp, Microsoft Application  Virtualization,  VMware ThinApp ...  với hai loại công nghệ chủ yếu sau:

-  Application Streaming: ứng dụng được chia thành nhiều đoạn mã và được truyền sang máy người sử dụng khi cần đến đoạn mã  đó. Các đoạn mã này thường được đóng gói và truyền đi dưới giao thức HTTP, CIFS hoặc RTSP

-  Desktop Virtualization/Virtual Desktop Infrastructure (VDI): ứng dụng sẽ được cài đặt và chạy trên một máy ảo. Một hạ tầng quản lý sẽ tự đông tạo ra  các desktop ảo và cung cấp các desktop ảo này đến các đối tượng sử dụng. Hiện tại, Viettel IDC đang cung cấp dịch vụ VDI, mang tên dịch vụ máy tính ảo Cloud PC.

4. Ảo hóa hệ thống máy chủ

Ảo hóa hệ thống máy chủ cho phép ta có thể chạy nhiều máy ảo trên một máy chủ vật lý, đem lại nhiều lợi ích như tăng tính di động, dễ dàng thiết lập với các máy chủ ảo, giúp việc quản lý, chia sẻ tài nguyên tốt hơn, quản lý luồng làm việc phù hợp với nhu cầu, tăng hiệu suất làm việc của một máy chủ vật lý.

Xét về kiến trúc hệ thống, các mô hình ảo hóa hệ  thống máy chủ  có thể  ở  hai dạng sau:

-  Host-based:  Kiến trúc này sử dụng một lớp hypervisor chạy trên nền tảng hệ điều hành, sử dụng các dịch vụ được hệ điều hành cung cấp để phân chia tài nguyên tới các máy ảo. Ta xem hypervisor này là một lớp phần mềm riêng biệt, do đó các hệ điều hành khách của máy ảo sẽ nằm trên lớp hypervisor rồi đến hệ điều hành của máy chủ và cuối cùng là hệ thống phần cứng…  Một số hệ thống hypervisor dạng Hosted có thể kể đến như VMware Server, VMware Workstation, Microsoft Virtual Server…

-  Hypervisor-based:  hay còn gọi là bare-metal hypervisor. Trong kiến trúc này, lớp phần mềm hypervisor chạy trực tiếp trên nền tảng phần cứng của máy chủ, không thông qua bất kì một hệ điều hành hay một nền tảng nào khác. Qua đó, các hypervisor này có khả năng điều khiển, kiểm soát phần cứng của máy chủ. Đồng thời, nó cũng có khả năng quản lý các hệ điều hành chạy trên nó.  Nói cách khác, các hệ điều hành sẽ nằm trên các hypervisor dạng bare-metal rồi đến hệ thống phần cứng. Một số ví dụ về các hệ thống Bare-metal hypervisor như là Oracle  VM, VMware ESX Server, IBM's POWER Hypervisor, Microsoft's Hyper-V, Citrix XenServer…


(Lê Nhật, Cục Ứng dụng CNTT)

Tin liên quan

23/03/2020

Phương pháp triển khai và vận hành quy trình làm việc từ xa cho doanh nghiệp

Làm việc từ xa là một khái niệm không mới với các freelancer hay các nhóm làm việc đa quốc gia, đặc biệt là trong lúc dịch bệnh Covid-19 đang hoành hành như hiện nay.

21/03/2020

Cần chuẩn bị những gì để làm việc từ xa trong thời gian dịch Covid-19 diễn ra?

Để có thể làm việc từ xa hiệu quả bạn cần phải chuẩn bị rất nhiều thứ, trong đó có việc đảm bảo có máy tính kết nối Internet, sử dụng thành thạo các phần mềm lưu trữ, bảo mật riêng của cơ quan,...

18/03/2020

Cloud PC (VDI) là gì? Cloud PC gồm những thành phần nào?

Cloud PC là giải pháp máy tính ảo được xây dựng dựa trên công nghệ điện toán đám mây, lưu trữ dữ liệu máy tính người dùng tại trung tâm dữ liệu, được trang bị nhiều lớp bảo mật.

18/03/2020

Giải pháp Cloud PC (VDI) đem lại những lợi ích nào cho doanh nghiệp?

Cloud PC (VDI) đem đến nhiều lợi ích lớn cho doanh nghiệp, trong đó có thể kể đến như việc làm giảm đi đáng kể mức chi phí phải đầu tư về tài nguyên phần cứng cho toàn hệ thống máy tính làm việc.

18/03/2020

Cloud Camera là gì? So sánh Cloud Camera và Camera truyền thống?

Giải pháp Cloud Camera là hệ thống truyền dẫn tín hiệu và lưu trữ dữ liệu video từ các Camera phân tán, cho phép người dùng xem, tương tác với các camera và dữ liệu video trực tuyến qua mạng, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.

18/03/2020

Cloud Camera - Giải pháp quản trị doanh nghiệp hiệu quả

Sử dụng Cloud Camera, doanh nghiệp có thể theo dõi cùng lúc nhiều địa điểm, chi nhánh trên cùng một giao diện, một tài khoản; theo dõi và truy xuất dữ liệu 24/7 (không lo mất dữ liệu khi đầu ghi hình hỏng như các giải pháp Camera truyền thống).

10/03/2020

Học trực tuyến - Khi E-Learning kết hợp với công nghệ điện toán đám mây

Đám mây" (Cloud) có những ảnh hưởng tích cực tới giáo dục như tiết kiệm chi phí thiết lập phần mềm đào tạo, phát triển các khóa học trực tuyến,... Cloud cho phép con người lưu trữ mọi tập tin, dịch vụ và tài sản kỹ thuật số trên máy chủ ảo, đồng thời có thể chia sẻ với các thiết bị ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ thời gian nào.

07/03/2020

Xu hướng tương lai của nghề IT và công nghệ điện toán đám mây

Điện toán mây đã và đang hiện diện ở rất nhiều nơi, từ công việc cho đến cuộc sống. Các "đám mây" đã thay đổi đáng kể cách con người sử dụng máy tính và nó cũng tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nghề IT trong tương lai.

04/03/2020

VMware bổ nhiệm Giám đốc phát triển đối tác mới, định hướng chuyển đổi số tại Việt Nam

Theo VMware, việc bổ nhiệm ông Venkatesh Murali vào vị trí Giám đốc Phát triển đối tác sẽ thúc đẩy hơn nữa hành trình chuyển đổi số và lên đám mây của các khách hàng tại những thị trường năng động, tăng trưởng nhanh ở châu Á, trong đó có Việt Nam.

13/02/2020

Ảo hóa Container và Virtual Machine khác nhau như thế nào?

Ảo hóa là một công nghệ được thiết kế để tạo ra tầng trung gian giữa hệ thống phần cứng máy tính và phần mềm chạy trên nó. Vậy ảo hóa Container và Virutal Machine có gì khác nhau?